Forum Home Forum Home > Sức khỏe, đời sống > Tin tức sức khỏe
  New Posts New Posts RSS Feed: DINH DƯỠNG
  FAQ FAQ  Forum Search   Register Register  Login Login

DINH DƯỠNG

 Post Reply Post Reply
Author
admin View Drop Down
Admin Group
Admin Group
Avatar
Admin Chợ thuốc

Joined: 14 tháng mười 2005
Online Status: Offline
Posts: 434
  Quote admin Quote  Post ReplyReply Direct Link To This Post Topic: DINH DƯỠNG
    Posted: 28 tháng chín 2008 at 21:31

Dinh dưỡng là những chất nuôi cơ thể, nếu cung cấp không đầy đủ các chất thì cơ thể bị rối loạn chuyển hóa và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe. Không có dinh dưỡng thì không một sinh vật nào tồn tại. Con người ăn từ khi ở trong bụng mẹ. Dinh dưỡng gồm không khí, nước, các nguyên tố hóa học trong tự nhiên và các hợp chất hữu cơ trong động thực vật. Bất kỳ một chất dinh dưỡng nào vào cơ thể cũng đều được cơ quan tiêu hóa và hô hấp xử lý cho phù hợp với đặc tính sinh hóa của cơ thể.

1. Không khí

 

Gồm 20,9%oxy, 78,1% Nitơ, 0,9 % , 0,03% Co2 , các khí trơ như Heli, Metan, cripton, Hidro, Nitro oxit, Xeon và hơi nước…

Khi hàm lượng O2 giảm dưới 15% thì cơ quan hô hấp gặp trở ngại. Não mất o xy trong 4 phút sẽ bị liệt.

Một người nằm một ngày đêm tiêu thụ hết 400-500 lit Oxy. Mùa xuân, tần số hô hấp cao hơn 1/3 mùa thu.

 

2. Nước

 

Có công thức hóa học là H2 O. Hàm lượng nước trong cơ thể nam là 60%, trong nữ là 50%. Khi cơ thể giảm 20% nước con người sẽ chết. Nhu cầu nước cho người lớn mỗi ngày là 2500ml. Trong nước có các khoáng chất như sắt, đồng, kẽm, nhôm, manhê, can xi, clo, Mangan…

Trong cơ thể, nước phân bố không đều: Theo tỷ lệ phần trăm thì ở các mô mỡ có 20%, xương có 25%, gan 70%, cơ bắp 75%, máu 80 %, óc 80 %.

 

3. Các nguyên tố hóa học trong tự nhiên

 

Cho đến nay người ta đã tìm ra 116 nguyên tố hóa học trong đó có 94 nguyên tố có trong tự nhiên còn lại là tổng hợp trong phòng thí nghiệm bằng máy gia tốc hạt. Trong số 94 nguyên tố tự nhiên người ta mới tìm thấy 74 nguyên tố có trong thực vật và gần 50 nguyên tố có trong người, trong đó có nhiều nguyên tố chưa biết được vai trò sinh lý của chúng. Việc hấp thụ các nguyên tố cũng theo một tỷ lệ thích hợp trong mỗi điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, nếu sự cung cấp không cân đối theo tỷ lệ sẽ bị hoặc là đào thải hoặc là làm kìm hãm sự hấp thu các nguyên tố khác.

Có 4 nguyên tố kim loại là nhôm Al, Cadimi Cd, Thủy ngân Hg và Chì Pb là gây độc cho cơ thể nếu nhiễm nhiều. Tổng lượng các nguyên tố tự nhiên chiếm 5% trọng lượng cơ thể.

 

4. Các hợp chất hữu cơ

 

A. Protít

 

Chất đạm. Là thành phần cấu trúc bắt buộc của tế bào, chiếm một lượng nhiều nhất trong các chất hữu cơ và có vai trò quan trọng trong cấu trúc và hoạt động sống của tế bào. Các phần tử protein đều chứa C 50 - 55%, O 21-24%, H 6,5-7,3 %, N 15-18%, và các nguyên tố hóa học khác. Phân tử protein lớn nhất dài 0,1 micromet, phân tử lượng tới 1,5 triệu ĐVC. Trong protein có các axit amin. Tổng lượng protein chiếm 19% trọng lượng cơ thể.

 

Chức năng của protein

 

Cấu thành các tổ chức của cơ thể.

Cấu thành các Enzym và các hoocmon.

Cấu thành các kháng thể.

Điều tiết áp lực thẩm thấu.

Cung cấp năng lượng. 1 gam protein cho 4 kcal

Nhận biết và bắt những vật lạ xâm nhập cơ thể, tiết ra chất hóa học để tiêu diệt vi rút lạ…

Là vai trò trung gian cho phản ứng trả lời của tế bào thần kinh

Điều hòa quá trình truyền thông tin di truyền, điều hòa quá trình trao đổi chất.

Chống đỡ cơ học.

Dự trữ dinh dưỡng, cung cấp các axít amin cho các phôi.

 

Nhu cầu: Chiếm 11 – 14 % tổng nhu cầu năng lượng. Ở trẻ em và thanh niên là 13 – 14 %, ở người lớn là 11 – 12 %.

 

Nguồn trong tự nhiên Protein có trong động, thực vật. Hàm lượng trong gia súc, gia cầm, thủy sản là 10 – 20 %, trong sữa tươi các loại là 1,5– 3,8%, trong trứng là 11 – 14 %, đậu khô các loại là 20 – 40 %, trong ngũ cốc các loại là 6 – 10 %, trong rau quả.

 

B. Lipít

 

- Chất béo Lipít được cấu tạo từ C, O, H có tỷ trọng nhỏ hơn nước, không tan trong nước. Nếu ở nhiệt độ thường mà đông lại gọi là mỡ, không đông là dầu. Tổng lượng Lipit trong cơ thể chiếm 15%.

 

Vai trò của lipít:

Là nguồn năng lượng , 1 gam chất béo cho 9 Kcal

Là thành phần cấu trúc tế bào thần kinh, não, tim, gan, tuyến sinh dục, chuyển hóa cholesterol.

Tăng cường sức đề kháng, bảo vệ các cơ quan và duy trì nhiệt độ cơ thể.

Thúc đẩy việc hấp thụ Vitamin tan trong mỡ.

 

Nguồn cung cấp: Động vật như mỡ các loại, và thực vật như dầu các loại.

 

Nhu cầu Chiếm dưới 30 % tổng nhu cầu năng lượng, tốt nhất là từ 20 đến 25%.

 

C. Gluxít

 

Là chất hữu cơ phổ biến trong mọi tế bào gồm 3 nguyên tố C, H, O, có công thức cấu tạo chung là (CH2O)n. Về mặt dinh dưỡng cũng để chỉ đường các loại. Theo kết cấu hóa học được chia thành:

- Monosacarit – đường đơn gồm Glucoza - đường nho là một loại đường quan trọng nhất trong cơ thể, đường trong máu chính là glucoza, nó tồn tại chủ yếu trong thức ăn thực vật. Fructoza – đường quả là loại đường ngọt nhất, độ ngọt gấp 1,75 lần đường mía, sau khi hấp thụ, cơ thể sẽ chuyển thành đường Glucoza. Galactoza là chất phân giải đường sữa, sau khi được hấp thu nó được cơ thể chuyển thành đường glucoza.

- Đisacarit – đường đôi do hai phân tử đường tạo thành, đường này phải được phân giải thành đường đơn rồi cơ thể mới hấp thụ. Đó là đường Sacroza – đường mía, đường Mantoza – đường mạch nha, Đường Lactoza – đường sữa.

- Polysacarit – đường cao phân tử do nhiều phân tử đường Glucoza kết hợp với nhau, nó không có vị ngọt, khó hòa tan trong nước. Nó phải phân giải thành Glucoza thì cơ thể mới hấp thụ.

 

Công dụng sinh lý của đường

 

- Cung cấp năng lượng. Là nguồn năng lượng duy nhất của hệ thần kinh, khi lượng đường máu thấp sẽ bị hôn mê, tử vong. 1 g cho 4 Kcal.

- Cấu tạo nên các tổ chức thần kinh.

- Bảo vệ gan giải độc. Khi lượng đường tồn trữ đủ, gan sẽ có khả năng giải độc mạnh đối với nhiều loại chất độc.

- Chống tạo thể xeton.

- Giúp cho quá trình thụ tinh.

 

Lượng cung cấp Chiếm 60 – 70 % tổng nhu cầu năng lượng. Do khó xác định năng lượng tiêu thụ mỗi ngày nên người ta thường dùng phương pháp cân nặng để tính lượng đường cần thiết ví dụ: với trẻ nhỏ mỗi ngày mỗi kg trọng lượng cần 12 gam, trước 13 tuổi cần 15 g, sau 13 tuổi cần 10 gam. Nếu một em bé 10 tuổi có cân nặng 20 kg thì mỗi ngày cần 15 x 20 = 300 gam đường, Một người lớn nặng 50 kg thì mỗi ngày cần 50 x 10 = 500 gam đường.

 

Nguồn cung cấp

 

Chủ yếu từ trong thức ăn ngũ cốc và rau quả, trong đường cát, nước ngọt, bánh kẹo.

 

5. Vitamin

 

Là tên gọi chung cho nhiều loại hợp chất hữu cơ cần thiết để duy trì các hoạt động sống, tuy tính chất hóa học và kết cấu của chúng không gần giống nhau nhưng có những điểm chung sau:

Tồn tại tự nhiên trong thức ăn với hàm lượng nhỏ, có loại là vitamin bản thể, có loại là tiền tố.

Mỗi loại Vitamin đảm nhiệm chức năng chuyển hóa khác nhau nhưng không cung cấp năng lượng, không phải là thành phần kết cấu cơ thể.

Cơ thể chỉ cần một lượng ít là thỏa mãn được nhu cầu nhưng phải đầy đủ.

 

Vitamin tan trong nước

 

- Vitamin B1 Cải thiện trí nhớ, cần cho hệ thần kinh. Liều lượng cho người lớn là 1,4 mg/ngày. Chất trợ giúp hấp thu: vitamin C, axít Citric. Chất ức chế hấp thu: Uống rượu, Trà, Cà phê, chất SO2 . Đề phòng nếu dùng liều 3 g/ ngày.

- Vitamin B2 Cải thiện sinh lực, duy trì da, móng, tóckhỏe mạnh, giảm chứng vọp bẻ khi mang thai. Liều dùng 1,6 mg/ngày. Chất trợ giúp hấp thu: Selen, cácvitamin nhóm B khác. Chất ức chế hấp thu: Uống nhiều rượu, các thuốc chống suy nhược, nhiều sắt, kẽm, đồng, man gan, hút thuốc lá, uống thuốc ngừa thai. Đề phòng : người bị đục thủy tinh thể không dùng nhiều hơn 10 mg/ngày, dùng liều cao hơn 200 mg/ngày là bất lợi.

- Vitamin B3 Làm hạ mức cholesterol cao, tốt cho người nghiện rượu, cải thiện mụn trứng cá đỏ. Liều dùng 25-30 mg. Chất hỗ trợ hấp thu: Các vitamin nhóm B. Chất ức chế hấp thu: Thuốc kháng sinh, nghiện rượu, thuốc ngừa thai, trà, cà phê. Đề phòng: dùng 3-6 g sẽ bị hại gan, bệnh gút tránh dùng.

- Vitamin B5 . Làm mau lành vết thương, gảm viêm khớp. Liều lượng 6 mg/ngày. Hỗ trợ hấp thu: các sinh tố B. Ức chế hấp thu: Rượu, trà, cà phê. Đề phòng ngộ độc nếu dùng 10 mg/ngày.

- Vitamin B5 Axít panothenic. Nhu cầu 4-7 mg/ngày. Tham gia vào việc tổng hợp axít béo, hình thành kháng thể.

- Vitamin B6  Làm dịu hội chứng tiền kinh nguyệt, có một phần nhỏ được tổng hợp ở ruột, cải thiện tình trạng suy nhược, chống nôn. Liều dùng 2 mg/ngày. Chất hỗ trợ hấp thu các sinh tố B, kẽm, Mg. Chất ức chế hấp thu: Uống rượu, thuốc ngừa thai, hút thuốc, kháng sinh. Đề phòng: ngộ độc khi dùng 200 mg/ ngày.

- Vitamin B8Vitamin H, Biotin, cần cho vận chuyển CO2 , khửamoniac. Liều lượng 100-300mcg/ngày.

- Vitamin B9 – Axít folic. Tránh dị tật bẩm sinh, giảm rủi ro bệnh tim, chống thiếu máu nguyên hồng cầu. Liều dùng 200 mcg/ngày. Chất hỗ trợ hấp thu vitamin nhóm B. Chất ức chế hấp thu: Rượu, thuốc giảm đau, thuốc ngừa thai, thuốc trị tiểu đường. Đề phòng: dùng nhiều sẽ cản trở hấp thu kẽm, cẩn thận với người bệnh động kinh.

- Vitamin J – cholin. Cần cho phòng chứng gan mỡ, duy trì chuyển hóa lipit, nhu cầu vài mg.

- Vitamin B12Tránh bệnh thiếu máu, giúp tăng trưởng nhanh, bổ thần kinh, giảm stress. Nhu cầu 2-3 mcg/ ngày. Chất hỗ trợ hấp thu: Ca, Sinh tố B, A, C, E. Chất ức chế hấp thu: Rượu, thuốc ngừa thai, thuốc ngủ, thuốc trị tiểu đường, huyết áp. Đề phòng khi dùng liều 3g/ ngày.

- Vitamin C -A xit ascobic, Làm lành vết thương, chống o xy hóa, giúp hấp thu sắt, tránh đục thủy tinh thể. Tồn tại ở dạng L mới có hoạt tính sinh học, dạng D không có hoạt tính sinh học. Có tác dụng tốt nhất khi ở trong tự nhiên – rau qủa. Lượng hấp thu tốt nhất là 30-60 mg/ngày. Chất hỗ trợ hấp thu: Chất Bioflavoid trong thực vật, Ca, Mg. Chất ức chế hấp thu: Thuốc ngừa thai, hút thuốc, thuốc trị nhiễm trùng và mụn, thuốc giảm đau. Đềphòng uống hơn 1 g/ ngày sẽ nhiễm độc.

Ngay từ năm 1930 khi phân lập được Vitamin C, Albert Szent-Gyorgy – Nhà sinh hóa Hungari cho rằng Vitamin C nguyên chất không có vai trò sinh hóa nếu không có Flavonoid. Đây là vấn đề chúng ta cần phải suy nghĩ về giá trị của Vitamin C nói riêng và những vitamin tổng hợp.

 

Vitamin tan trong mỡ

 

- Vitamin A. và Caroten . Vitamin A Tồn tại trong thiên nhiên ở hai dạng: Vitamin A 1 RETINOL Và Vitamin A2 . Caroten là tiền Vitamin A có thể chuyển thành Vitamin A. Có tác dụng hình thành phát triển lớp biểu mô, cần cho phát triển tế bào, làm chậm biến chứng gây ung thư, cần cho mắt, sao chép gen, tốt cho miễn dịch. Liều dùng 800mcg/ngày = 3 gam gan = 8 quả trứng. Chất hỗ trợ hấp thu: chất béo hoặc dầu. Chất c chế hấp thu: thuốc đau dạ dày, thuốc giảm chlesterol, thiếu kẽm. Đề phòng liều 300mg cho người lớn và 100mg cho trẻ em sẽ gây hại.

- Vitamin D Giúp chống còi xương, trị bệnh vảy nến. Liều lượng 5 mcg/ngày. Đề phòng nếu dùng quá sẽ có hại. Nếu không có Vitamin D thì cung cấp canxi là vô nghĩa .

Người ta gọi Vitamin D là vitamin ánh sáng vì nó được cơ thể tổng hợp từ ánh sáng mặt trời. Một Cm2 da phơi nắng 3 giờ sẽ tổng hợp được 18 đơn vị quốc tế vitamin D. Tổng diện tích da người trưởng thành là 2 m2 ­­­ nếu phơi nắng trong 1 giờ sẽ tổng hợp được lượng Vitamin D dùng trong cả tháng. Tổng diện tích phần da phơi nắng của tay, đầu, cổ, cánh tay, cẳng tay, bàn tay chiếm chiếm từ 34 % diện tích da toàn thân (trẻ sơ sinh), 21% diện tích toàn thân ( người lớn) . Vì vậy có thể không cần phải cung cấp Vitamin D cho cơ thể qua đường tiêu hóa. Một điều lưu ý là chỉ nên ra nắng vào thời điểm từ 7 đến 9 giờ sáng và từ 13 giờ đến tối để tránh tia cực tím làm tổn hại da.

- Vitamin E Giúp giảm rủi ro bệnh tim, chống oxy hóa. Liều lượng dùng 10 mg/ ngày. Chất hỗ trợ hấp thu: Vitamin C, selen. Chất ức chế hấp thu: thuốc giảm cholesterol, nhiều sắt, đồng, Mg, thuốc ngừa thai. Đề phòng người thiếu vitamin K, nếu dùng nhiều Vitamin E ảnh hưởng đến đông máu, người bệnh tim, cao huyết áp, thiếu máu cục bộ.

- Vitamin K Giảm ói mửa và buồn nôn khi có thai, cải thiện xương. Liều dùng không xác định. Chất hỗ trợ hấp thu: thực phẩm lên men như sữa chua. Chất ức chế hấp thu: Thuốc hạ cholesterol, thuốc giảm đau, thuốc kháng sinh. Đề phòng dùng liều caosẽ phân hủy tế bào hồng cầu.

Ngoài ra còn những chất gần giống Vitamin như:Vitamin B4, B10 , B 11 , B13 , B15 ,B17 , Vitamin F, Vitamin I.

- Vitamin P - Flavonoid . Được nhà hóa học Hungari – Szent Gyorgyi tìm ra năm 1930. Flavonoid được mệnh danh là “ những người thợ sửa chữa sinh hóa của tự nhiên” gồm một nhóm (đã tìm đượchơn 4000 hợp chất) các hợp chất phổ biến trong thực vật có bản chất là những polyphenol có tác dụng chống o xy hóa rất đặc hiệu. Nó tương đối ổn định trong môi trường nhiệt, Oxy và có độ axit vừa phải, nhưng sẽ bị phân hủy nhanh khi gặp ánh sáng. Nhờ khả năng sửa chữa các phản ứng của cơ thể chống lại các hợp chất khác trong các dị ứng nguyên virus và các chất sinh ung thư . Nhờ vậy chúng có các đặc tính kháng viêm, kháng dị ứng, chống vi rút và chống ung thư. Nó là chất chống o xy hóa mạnh giúp cơ thể chống lại các tổn thương do sự o xy hóa và các gốc tự do một cách hữu hiệu. Vì vậy Flavonoid có tác dụng bảo vệ hệ tim mạch, giảm nguy cơ tử vong do các bệnh lý tim mạch như thiếu máu cơ tim, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch. Khả năng chống o xy hóa của Flavonoid còn mạnh hơn vitamin C, Vi tamin A, Vitamin E, selen, kẽm…Nếu lượng flavonoid cung cấp không đủ hàng ngày thì bệnh lý tăng lên rõ rệt. Mỗi loại flavonoid có những lợi ích riêng nhưng chúng thường hỗ trợ lẫn nhau, phổ tác dụng chồng chéo nhau.

Phương Thảo (Theo Thái Bình)


  Share Topic     
Back to Top
 Post Reply Post Reply

Forum Jump Forum Permissions View Drop Down



This page was generated in 0.094 seconds.
Bao hiem online,cong ty bao hiem    |    [Free Express Edition]
Copyright ©2001-2009 Web Wiz